3
Sau khi ăn tối xong trời vẫn còn sớm, và gã hầu như chẳng có hoạt động giải trí nào vào những ngày trong tuần. Chiếc TV hôm nay hoàn toàn bị nhiễu sóng, và hã nhớ vài ngày trước gã nhận được một thông báo rằng gói truỳen hình gã mua lúc đầu sắp sửa hết hạn. Nhưng giờ gã quá lười biếng để bật máy tính lên gia hạn, nên gã chỉ đơn giản là tắt TV đi và ra ngoài.
Chỉ có duy nhất một quán bar trong thị trấn mà không mở cửa muộn. Theo lịch của dân cư thị trấn, nó thường mở từ bốn giờ chiều đến một giờ đêm. Vào những đêm dài đằng đẵng khi gã không có gì để làm, đến đây uống vài ly và hút thuốc để thư giãn cũng là một ý hay.
Khi gã bước vào quán bar, khách hàng đã đang túm năm tụm ba, uống rượu và chuyện trò vui vẻ. Gã liếc quanh và tìm được một chỗ trống trong góc để ngồi. Sẽ không có ai đến bắt chuyện với gã. Và gã thích điều đó.
Gã gọi một cốc bia và châm thuốc. Trong không gian không quá ồn ào, người ta truyền tai nhau những tin đồn. Nhân viên pha chế mang đồ uống đến cho gã, rồi quay trở về quầy bar và bắt đầu cắt một quả chanh với biểu cảm ngưng trọng. Gã khịt mũi, và khi gã nhìn quả chanh màu xanh, gã có thể ngửi được mùi chua khiến người ta ứa nước miếng.
Quán bar nhỏ đến nỗi không cả có sân khấu, nhưng trong góc vẫn có một cái ghế và micro được tận dụng làm sân khấu. Thỉnh thoảng khách hàng sẽ lên cao hứng hát một bài như thể đây là quán karaoke, và người ta sẽ đáp lại bằng một tràng pháo tay hoặc một loạt tiếng boo và trêu chọc, tất cả như gia vị thêm cho hoạt động giải trí ban đêm.
Góc sân khấu lúc này trống rỗng, và tất nhiên gã không có hứng thú với nó chút nào. Lí do gã để ý đến nó là bởi vì một người lạ mặt mặc đồ đen đang bước về phía micro, trên tay cầm một cây đàn acccordion mà chủ quán đã bỏ đi nhiều năm.
Kẻ lạ mặt.
Gã nhận ra kẻ lạ mặt này chính là người đàn ông đã ở thư viện suốt cả ngày hôm nay. Hôm nay ở thư viện, khi Jim đứng trông quầy thủ thư, trên tay cầm một cuốn tiểu thuyết mà gã không biết tên và chăm chú đọc nó, gã lấy ra cái thang từ góc và đi về phía giá sách, không có vẻ gì là quan tâm đến khu tự đọc vẫn vắng tanh không một bóng người.
Gã kiểm tra từng quyển sách trên giá một. Nhiều trang sách bung cả ra khỏi bìa, bị gấp góc cẩu thả. Gã vuốt thẳng chúng ra ngay ngắn, rồi đặt lại đúng vị trí, vẫn tận tuỵ vì công việc như mọi khi.
Thường thì khu tự đọc sẽ lác đác có vài người vào những ngày trong tuần. Âm thanh duy nhất trong không gian nhỏ bé là tiếng gã thỉnh thoảng lê cái thang và tiếng lật sách của mọi người. Buổi chiều, ánh nắng mặt trời lấp lánh cũng góp vui, rót lên một khoảng rộng khiến người ta chói mắt.
Gã biết gã chẳng thể trông cậy gì vào Jim. Suốt từ lúc ăn trưa đến giờ anh ta biến mất tăm. Gã chỉ có thể tự xuống khỏi cái thang gỗ, đặt danh sách các đầu sách xuống, và đi qua khu tự đọc để kéo rèm che bớt nắng, dù rằng cũng chẳng có tác dụng gì lắm.
Có gần mười người trong khu tự đọc, hầu hết đều là những gương mặt quen thuộc, ngoại trừ một người lạ gã nhớ chưa từng gặp trước đây - người đàn ông đang ngồi trên sân khấu lúc này. Khi anh ta lướt qua khu đọc sách, người đàn ông lạ mặt ngước lên và nhìn gã, rồi mỉm cười khi bắt gặp ánh mắt gã. Anh ta có vẻ như là khách hàng thường xuyên ở đây. Cứ hai ngày một lần anh ta lại đến để đọc sách, và chưa gì đã quen mặt với gã rồi. Nhưng gã vẫn không nhận ra anh ta một chút nào. Nên gã chỉ có thể lịch sự gật đầu, và sau khi kéo rèm, gã định sẽ quay lại tiếp tục công việc.
"Um, có cuốn "Sherlock Holmes" nào ở đây không?" Người lạ mặt đuổi theo gã và hỏi.
Gã nhìn người đàn ông lạ trước mặt, và vì đạo đức nghề nghiệp, gã phải đáp: "Có, tôi sẽ lấy cho anh." Thường thì thái độ của gã rất trung tính, không vồn vã cũng không quá thân thiện, nhưng người đàn ông xem chừng biết ơn gã lắm, anh ta vui vẻ cảm ơn như thể vừa được đối xử như thượng đế.
Gã đi về phía giá sách ở cột thứ ba, hàng tám, lướt những ngón tay trên gáy những cuốn sách trên hàng năm. Gã nhớ rõ ràng rằng cuốn "Sherlock Holmes" được đặt ở đây.
"Của anh đây, vui lòng trả sách lại chỗ cũ sau khi dùng xong. Nếu anh không thể tìm thấy chỗ của nó, anh có thể trả lại ở quầy. Cảm ơn." Gã giải thích như một cái máy được lập trình sẵn.
Người đàn ông lạ cầm lấy cuốn sách, lặng lẽ quay lại khu tự đọc, và bắt đầu đọc cuốn tiểu thuyết trinh thám cũ kĩ đã được xuất bản từ hàng chục năm trước rồi.
Gã cau mày.
Màu đen.
Trên người anh ta mặc toàn đồ đen.
Gã chẳng biết vì lí do gì mà gã lại quan tâm chuyện này đến như vậy. Người đàn ông mặc nguyên một bộ quần áo màu đen và mái tóc đen tuyền dưới cái mũ len đen. Gã lắc đầu, quay lại giá sách, và tiếp tục hoàn thành công việc dài đằng đẵng, nhàm chán mà gã chẳng mảy may quan tâm.
Giờ thì gã lại gặp lại anh ta. Sau khi nghe được cuộc "chuyện phiếm" ở cửa hàng tạp hoá, gã theo trực giác xác định rằng người đàn ông lạ mặt này chính là người lạ mà Marianne nói đến. Lúc trước anh ta ở thư viện, và giờ thì là ở quán bar. Anh tra đến đây là vì gã. Suy nghĩ chợt nảy ra trong tâm trí, một kết luận mà gã không thể lí giải hay sử dụng lập luận logic để giải thích. Nhưng gã cảm thấy vô cùng chắc chắn rằng nó chính là như vậy và không có cách nào chối bỏ được.
Đột nhiên gã thấy tâm trạng cực kì tệ. Sự quen thuộc với người kia lúc chiều, sự "tình cờ gặp mặt" hai lần một ngày, và tất cả những suy nghĩ vẩn vơ khiến gã cảm thấy bực bội như thể mất quyền kiểm soát.
Người lạ kia có lẻ không biết gã đang khó chịu. Anh ta cầm chiếc đàn accordion lên, mỉm cười máy móc với khán giả đang theo dõi anh từ bên dưới, và bắt đầu chơi nhạc.
Công bằng mà nói, anh ta chơi không tệ. Tuy nhiên, gã không nghiên cứu sâu về lý thuyết âm nhạc, và cũng không đánh giá cao nó, nên gã chỉ có thể tự đánh giá trong lòng.
Trong quán bar ánh đèn tù mù, và điếu thuốc trên miệng gã phả ra làn khói xanh mờ dưới ánh đèn, chậm rãi hoà vào không khí. Quang cảnh trước mắt gã trở lên mơ hồ.
Gã thấy người đàn ông lạ mắt kia cuối cùng cũng ghim ánh nhìn chăm chăm vào anh. Đôi tay hắn ta di chuyển linh hoạt, và dưới chiếc áo cộc màu đen lộ ra một nửa bắp tay không đồ sộ lắm nhưng cực kì khoẻ khoắn, cơ bắp nhấp nhô dưới từng chuyển động. Cây đàn như thể không có chút sức nặng trên tay hắn ta.
Gã nhìn lại vào mắt người đàn ông lạ không chút sợ hãi, chăm chăm nhìn đôi mắt xanh thẳm như đang che dấu vô số bí mật. Gã thấy trong đó sự thách thức, sự vui sướng, cơn khát máu không cách nào che dấu. Gã cảm thấy lông tóc trên người dựng đứng hết cả lên, như một con vật không chút phòng bị đột nhiên bị ném vào giữa một bầy thú hoang. Gã cảm thấy gã đang bị theo dõi, thèm thuồng và bị săn.
Rồi cuối cùng gã trở nên giận dữ, và bởi thứ cảm xúc không thể lí giải này, gã thực sự vô cùng tức giận.
Gã đột ngột đứng lên và trông như thể gã muốn lao tới đấm với mặt người đàn ông lạ mặt, nhưng người kia vừa kịp lúc kết thúc màn trình diễn của mình và đặt cây đàn xuống.
Gã ngồi sụp xuống, quay đi không nhìn người đàn ông nữa. Gã vừa tức giận vừa bối rối. Bối rối bởi tất cả những thứ cảm xúc vô lý mà gã bộc phát khi đối mặt với một người lạ.
Như thể sự xuất hiện của người đàn ông lạ mặt như một loại điềm xấu, và để tránh điềm báo này, gã vô thức muốn huỷ hoại người kia.
Gã đang u mê khi anh chàng pha chế mang đến một ly rượu khác.
"Tôi không gọi cái này." Gã nhìn ly rượu mới trên bàn.
Người pha chế mỉm cười, bày ra biểu cảm "anh biết mà", và mỉm cười nói:
"Oh, là người đàn ông chơi accordion lúc nãy tặng anh." Gã nhìn theo hướng người pha chế, và người đàn ông lạ mặt trong bộ đồ đen đang nhìn lại anh. Và bước về phía anh. Gã căng cứng người, như một con thú sẵn sàng tấn công.
"Thử đi, rượu này ngon lắm." Người đàn ông lạ chỉ vào ly rượu trên bàn, như thể họ quen thân nhau lắm.
Gã thô lỗ từ chối, "Cảm ơn, không cần."
"Ồ, tiếc thật đấy, ly "Silver Bullet" này nguyên liệu pha với nhau thật sự rất hợp." Người đàn ông lạ thở dài.
Hành động đó thực sự là "đổ thêm dầu vào lửa", và cơn giận mà gã mới băn khoăn nãy rồi thậm chí còn dữ dội hơn vì ly "Silver Bullet" này, và ngón tay gã gần như run lên mất kiểm soát.
Sau một lúc lâu, cuối cùng gã cũng không khơi mào cuộc chiến. Thay vào đó, gã hất mạnh vai người đàn ông lạ mặt và giận dữ rời khỏi quán bar. Gã ngửi thấy mùi gì đó, thứ gì đó gã không thể miêu tả, nhưng dường như rất thân thuộc với gã. Thứ mùi không dễ chịu, nhưng nó như thể búa tạ nện lên thần kinh gã, cảnh báo gã rằng thứ mùi này đại diện một điều gì đó mà lúc này gã không thể gọi tên.
Mùi rỉ sét.
Tại sao gã lại ngửi thấy mùi rỉ sét.
Tại sao mùi rỉ sét lại khiến da gã căng cứng, tim gã đập loạn xạ, và đồng tử gã co lại?
Sao gã lại cảm thấy: Nguy hiểm. Và phấn khích.
Trên đường về nhà, gã gặp xe cảnh sát, xe cứu thương và xe đưa tang. Ở giao lộ, người dân thị trấn bu kín mít. Đường phố bị phong toả và giao thông tê liện, gã chỉ có thể đi len qua đám đông đang bu lại hóng hớt. Cáng y tế được khiêng ra khỏi ngôi nhà nơi xảy ra tai nạn, đã bị phủ vải trắng. Người trong xe cũng bị phủ kín, và mọi người cũng có thể đoán được thế có nghĩa là gì. Có tổng cộng ba cái xác cả thảy.
Người dân thị trấn hoảng loạn và thì thầm với nhau, mong nghe ngóng được chút manh mối. Theo lẽ tự nhiên, không ai bắt chuyện với gã, nhưng thế cũng không ngăn được gã đi tới đi lui và cẩn thận quan sát.
Đó là ngôi nhà nằm xéo đối diện với nhà gã. Mỗi mặt của ngôi nhà nhìn ra một góc của con phố, một mặt đối diện cửa ra vào và mặt kia đối diện cửa sổ. Góc xéo nhìn ra nhà gã, cửa sổ bên nhìn ra khách sạn cũ ở góc đối diện, và cửa ra vào ở mặt bên nơi gã đang đứng.
Gã nhớ lại người chủ nhà và nhận ra rằng vì vị trí của ngôi gà, gã hầu như không thấy có ai đi ra đi vào nơi đây. Gã chỉ có thể lờ mờ nhớ được là gia đình này có ba người. Nhờ vào việc phán đoán dựa trên ba cái xác lúc nãy, có lẽ một thảm kịch đã xảy ra. Ngôi nhà tạm thời bị cảnh sát bao vây và xe cứu thương rời đi, theo sau là xe tang lễ, cuối cùng là hai chiếc xe cảnh sát. Đám đông nhanh chóng tản đi, nhưng bóng tối của vụ thảm sát đã bao trùm dày đặc cả thị trấn nhỏ, nơi vào những ngày trong tuần trộm cắp còn ít xảy ra.
Gã nhìn thấy người đàn ông lạ mặc đồ đen băng qua con phố và bước vào khách sạn cũ giữa đám đông đang giải tán dần.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen247.Pro